Tin tức và Nhận định

Tin tức mới nhất về hoạt động công ty, và các chuyển biến đối với quỹ đầu tư do SSIAM quản lý.
Báo cáo cập nhật thị trường 05.2026

Áp lực lạm phát gia tăng trong tháng 4

TÓM TẮT

• Tăng trưởng của Việt Nam tiếp tục duy trì đà tích cực, song cơ cấu đang cho thấy những chuyển dịch đáng chú ý. Nền kinh tế ngày càng dựa nhiều hơn vào nhu cầu nội địa và đầu tư, đồng thời phụ thuộc nhiều vào chất lượng thực thi chính sách cũng như áp lực chi phí đầu vào.
• Áp lực lạm phát hiện nay chủ yếu xuất phát từ tác động trực tiếp và kéo dài của giá dầu ở mức cao, đặc biệt đối với nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng. Bên cạnh đó, các tác động gián tiếp đang dần hình thành và lan rộng sang một số nhóm hàng thiết yếu như thực phẩm – đồ uống, thuốc lá và thiết bị gia dụng.
• Sau nhịp điều chỉnh mạnh trước đó, VNIndex đã phục hồi ấn tượng trong tháng 4, tăng hơn 10% (gần 180 điểm) và chốt tháng tại 1,854.10 điểm. Tuy nhiên, phần lớn mức tăng này tập trung vào nhóm cổ phiếu Vingroup, phản ánh sự phân hóa rõ nét của dòng tiền.
 
Hoạt động sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam trong tháng 4/2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng vững chắc, dù cơ cấu đang dịch chuyển theo hướng cân bằng hơn và dựa nhiều hơn vào cầu nội địa. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 9.2% svck trong 4 tháng đầu năm, riêng tháng 4 tăng 9.9%, chủ yếu nhờ khu vực chế biến – chế tạo. Đáng chú ý, chu kỳ công nghiệp đang mở rộng ra ngoài trụ cột truyền thống là điện tử xuất khẩu, dù kim ngạch xuất khẩu máy tính và thiết bị điện tử vẫn tăng mạnh 49.1%, sang các ngành có tính chu kỳ cao và gắn chặt hơn với nhu cầu trong nước như hóa chất (+20.6%), kim loại (+18.7%) và vật liệu xây dựng (+17.9%). Điều này phản ánh vai trò ngày càng rõ nét của đầu tư và xây dựng trong cấu trúc tăng trưởng. Về thương mại, xuất khẩu tháng 4 đạt 45.4 tỷ USD (+21.0% svck), đưa tăng trưởng xuất khẩu 4 tháng lên 19.7%. Tuy nhiên, động lực tăng trưởng vẫn chủ yếu đến từ khu vực FDI, với mức tăng 29.2% trong tháng 4, trong khi xuất khẩu của khối doanh nghiệp trong nước giảm 4.2%. Cán cân thương mại thâm hụt 3.3 tỷ USD trong tháng, nâng mức thâm hụt lũy kế 4 tháng lên 7.1 tỷ USD. Thay vì phản ánh sự suy yếu về năng lực cạnh tranh, mức thâm hụt này gắn chặt với chu kỳ đầu tư hiện tại, thể hiện qua nhập khẩu tăng mạnh 28.7%, chủ yếu tập trung vào vật liệu sản xuất và hàng trung gian. Dù vậy, một số rủi ro mới đang hình thành: PMI tháng 4 ghi nhận số đơn hàng mới lần đầu giảm sau tám tháng, khi chi phí vận tải và nguyên vật liệu đầu vào bắt đầu gây sức ép lên cầu.
 
Đầu tư tiếp tục đóng vai trò hai “đầu tàu” của nền kinh tế. Giải ngân đầu tư công tăng 10.4% svck, đạt 5.8 tỷ USD, tương đương 19.7% kế hoạch năm, với những tín hiệu ban đầu cho thấy năng lực thực thi ở cấp địa phương đang được cải thiện. Song song đó, FDI tiếp tục củng cố chu kỳ tăng trưởng. Trong 4T26, vốn FDI đăng ký tăng mạnh 32,0% svck lên 18.2 tỷ USD, dẫn đầu là Singapore (40.3%) và Hàn Quốc (26.1%), trong khi vốn FDI giải ngân tăng vững 9.8% lên 7.4 tỷ USD. Sự kết hợp tích cực giữa vốn nhà nước và vốn ngoại cho thấy chu kỳ tăng trưởng tổng thể vẫn được duy trì vững chắc.
 
 
Về tiêu dùng, doanh thu bán lẻ phản ánh bức tranh có sức chống chịu tốt, song đà tăng thực chất vẫn ở mức vừa phải chứ chưa có dấu hiệu bứt tốc. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11.1% svck trong 4T26 (tương đương khoảng 6.3% tính theo giá thực), riêng tháng 4 ghi nhận mức tăng cao hơn ở 12.1%. Sự ổn định này được hỗ trợ đáng kể bởi đà phục hồi mạnh mẽ của ngành dịch vụ và du lịch: doanh thu lưu trú và ăn uống tăng 13.4%, doanh thu du lịch lữ hành tăng 12.1%. Động lực quan trọng thúc đẩy sự phục hồi của khối dịch vụ là lượng khách quốc tế tăng mạnh 14.6% svck, đạt 8.8 triệu lượt trong bốn tháng đầu năm, trong đó riêng tháng 4 đón 2.0 triệu lượt (+22.8% svck). Tuy nhiên, bất chấp sự phục hồi của ngành dịch vụ, cầu tiêu dùng hộ gia đình nhìn chung vẫn bị kìm hãm rõ rệt bởi chi phí sinh hoạt leo thang, ngăn cản một cú bứt phá tiêu dùng toàn diện và quyết đoán hơn.
 
Lạm phát đang nổi lên như một thách thức phức tạp hơn, với áp lực ngày càng rõ ràng. CPI bình quân 4 tháng đầu năm đạt 3.99% svck, tiệm cận mục tiêu 4.5% của NHNN. Riêng tháng 4 ghi nhận mức tăng mạnh lên 5.46% svck (+0.84% so với tháng trước), cao nhất kể từ tháng 1/2020. Áp lực giá ngày càng gắn chặt với chu kỳ đầu tư và mặt bằng giá hàng hóa toàn cầu cao. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2.59% so với tháng trước, do giá khí tăng mạnh 35,3% cùng với chi phí vật liệu và dịch vụ tiện ích leo thang. Đà tăng giá đã lan rộng, với 10/11 nhóm hàng trong rổ CPI cùng tăng. Các tác động vòng hai hiện đã thể hiện rõ ở nhóm thực phẩm, đồ uống và thiết bị gia dụng. Lạm phát lõi tăng từ mức bình quân 3.89% lên 4.66% trong tháng 4 cho thấy quá trình chuyển chi phí đang diễn ra rõ nét và cần được theo dõi chặt chẽ hơn.
 
 
Trong tháng 4/2026, điều kiện thanh khoản hệ thống ngân hàng đã hạ nhiệt so với giai đoạn căng thẳng đầu tháng, sau khi NHNN bơm ròng 19.5 nghìn tỷ đồng qua kênh OMO. Dư nợ OMO cuối tháng tăng lên 310 nghìn tỷ đồng, giúp lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng giảm về khoảng 6%, từ mức đỉnh gần 9%. Về lãi suất, số liệu tháng 3 cho thấy lãi suất huy động tăng nhẹ 0.1-0.3% so với tháng trước (tăng 0.2-0.9% so với đầu năm), trong khi lãi suất cho vay cũng nhích thêm 0.2-0.3%. Sau cuộc họp ngày 9/4 với Thống đốc NHNN mới, các ngân hàng thương mại đã đồng thuận điều chỉnh giảm lãi suất huy động, song các đợt giảm này vẫn mang tính cục bộ. Dư địa nới lỏng tiền tệ diện rộng tiếp tục bị ràng buộc bởi mất cân đối cơ cấu, chi phí vốn tăng cao, cùng các rủi ro địa chính trị và chính sách thận trọng của các ngân hàng trung ương lớn. Dù vậy, trong bối cảnh đó, tỷ giá USD/VND vẫn giữ được sự ổn định đáng kể, chỉ tăng khoảng 0.2% từ đầu năm, bất chấp thâm hụt thương mại tháng 4 lên tới 3.3 tỷ USD.
 
 
TTCK Việt Nam ghi nhận sự phục hồi mạnh trong tháng 4, với VNIndex tăng 10.7% svtt và đóng cửa tại 1,854.10 điểm. Tuy nhiên, đà tăng điểm đến từ các cổ phiếu liên quan đến Vingroup (95%) - nếu loại trừ các cổ phiếu liên quan đến Vingroup (VIC, VHM, VRE, VPL), chỉ số VNI chỉ nhích nhẹ 0,5% trong tháng 4. Thanh khoản suy giảm rõ rệt, giá trị giao dịch bình quân trên HOSE giảm 25% so với tháng trước, còn khoảng 20 nghìn tỷ đồng/phiên. Đáng chú ý, khối ngoại bán ròng kỷ lục gần 14 nghìn tỷ đồng, dường như không bị tác động bởi thông tin nâng hạng FTSE công bố ngày 8/4.
 
Mùa đại hội cổ đông và công bố kết quả kinh doanh cho thấy nền tảng doanh nghiệp vẫn khá tích cực. Lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE trong Q1/2026 tăng tới 56% svck, dẫn đầu bởi các ngành Bất động sản, Dầu khí, Bán lẻ và Vật liệu. Ngược lại, ngành Ngân hàng – dù hút dòng tiền mạnh, chỉ ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận khoảng 13%. Do thanh khoản còn hạn chế, đà tăng của thị trường chưa lan tỏa diện rộng mà tập trung cao độ vào nhóm cổ phiếu Vingroup (VIC, VHM), trở thành động lực chính cho mức tăng 44% của ngành Bất động sản trong tháng. Ở chiều ngược lại, ngành Năng lượng ghi nhận hiệu suất kém nhất, giảm 11.7%.
 
Tính đến ngày 29/4, P/E toàn thị trường ở mức 14.5x, tương đương trung bình 5 năm. Nếu loại trừ nhóm Vingroup, P/E giảm xuống 10.2x, cho thấy mặt bằng định giá chung vẫn hấp dẫn. Với mùa kết quả kinh doanh khép lại, tháng 5 nhiều khả năng sẽ là giai đoạn “trống thông tin”, thay vì phản ứng theo quán tính với tâm lý “Sell in May”, phù hợp để nhà đầu tư tái đánh giá nền tảng cơ bản và theo dõi sát các biến số vĩ mô then chốt như lạm phát, lãi suất, tỷ giá và diễn biến địa chính trị.
 
 
Admin

Admin

Ngày công bố:

22/05/2026

LIÊN HỆ NGAY

Hãy để chúng tôi phục vụ bạn