Báo cáo cập nhật thị trường 09.2026
Sản xuất và xuất khẩu tiếp tục tăng tốc, thâm hụt thương mại nới rộng, tiêu dùng vẫn thận trọng
TÓM TẮT
• Sản xuất, xuất khẩu và đầu tư tiếp tục tăng tốc. IIP tháng 8 tăng 14,41% so với cùng kỳ (8 tháng: +11,92%, cao nhất nhiều năm), dẫn đầu bởi công nghiệp chế biến chế tạo (+12,48%), trong khi xuất khẩu đạt 54,8 tỷ USD (+26% YoY) nhờ nhóm điện tử (+56%). Giải ngân đầu tư công lũy kế 8 tháng đạt 509,5 nghìn tỷ đồng (49,8% kế hoạch, +24,5% YoY); vốn FDI thực hiện tăng ~12% và FDI đăng ký mới/bổ sung tăng mạnh 55,4%.
• Áp lực thâm hụt thương mại hạ nhiệt đáng kể. Nhập khẩu tháng 8 đạt 54,9 tỷ USD (+37,9% YoY, nhưng giảm 3,1% MoM), giúp thâm hụt thương mại thu hẹp về mức nhập siêu chỉ 113 triệu USD. Cơ cấu nhập khẩu vẫn phản ánh nhu cầu sản xuất cao với điện tử (+80% YoY), xăng dầu (+150%) và quặng/khoáng sản (+109%).
• Áp lực thâm hụt thương mại hạ nhiệt đáng kể. Nhập khẩu tháng 8 đạt 54,9 tỷ USD (+37,9% YoY, nhưng giảm 3,1% MoM), giúp thâm hụt thương mại thu hẹp về mức nhập siêu chỉ 113 triệu USD. Cơ cấu nhập khẩu vẫn phản ánh nhu cầu sản xuất cao với điện tử (+80% YoY), xăng dầu (+150%) và quặng/khoáng sản (+109%).
• Áp lực lạm phát gia tăng, thị trường chứng khoán phục hồi nhưng thanh khoản còn dè dặt. CPI tháng 8 tăng 0,47% MoM (+4,89% YoY) do giá năng lượng tăng, đưa CPI bình quân 8 tháng lên 4,45%, tiến sát mục tiêu 4,5%. Thanh khoản tiền tệ dồi dào, lãi suất liên ngân hàng qua đêm quanh 2% và tỷ giá USD/VND giảm ~200 đồng. VN-Index tháng 8 hồi phục +5,6% MoM lên 1.832,12 điểm (+2,7% YTD), song thanh khoản khớp lệnh bình quân giảm còn 14,2 nghìn tỷ đồng/phiên và khối ngoại tiếp tục bán ròng 1,6 nghìn tỷ đồng (dù áp lực bán đã giảm mạnh).
Sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng cao nhất nhiều năm. Trong tháng 8, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 14,41% YoY. Lũy kế 8 tháng, IIP tăng 11,92% YoY, đánh dấu tốc độ tăng trưởng cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Động lực tăng trưởng tiếp tục đến từ ngành công nghiệp chế biến chế tạo khi sản lượng toàn ngành tăng 12,48% trong 8 tháng đầu năm. Nhiều ngành sản xuất chủ lực ghi nhận mức tăng trưởng hai chữ số như sản xuất kim loại (+22,37%), đồ uống (+16,36%), xe có động cơ (+15,86%), thiết bị điện (+14,56%) và sản phẩm điện tử (+13,91%). Bên cạnh đó, ngành khai khoáng tăng 8,09% trong 8 tháng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng 10,13%,đều cao hơn đáng kể so với đầu năm.
Hoạt động thương mại quốc tế duy trì đà tăng trưởng tích cực trong tháng 8. Kim ngạch xuất khẩu đạt 54,8 tỷ USD, tăng 26,0% so với cùng kỳ, trong khi nhập khẩu đạt 54,9 tỷ USD, tăng 37,9%. Nhóm hàng điện tử tiếp tục đóng vai trò động lực tăng trưởng quan trọng với mức tăng 56% YoY trong tháng 8. Xuất khẩu điện thoại và linh kiện cũng tăng 24%, phản ánh nhu cầu đối với các sản phẩm công nghệ và hoạt động đầu tư hạ tầng trí tuệ nhân tạo (AI) trên phạm vi toàn cầu vẫn duy trì ở mức cao. Ngoài ra, nhiều ngành hàng công nghiệp cơ bản cũng ghi nhận tăng trưởng tích cực. Xuất khẩu sắt thép tăng đột biến 98% YoY trong tháng 8, nâng mức tăng trưởng lũy kế 8 tháng lên 16%. Nhóm năng lượng và hóa chất cũng có diễn biến rất khả quan với xuất khẩu xăng dầu tăng 98% và hóa chất tăng 88%. Trong lĩnh vực nông nghiệp, các mặt hàng chủ lực tiếp tục duy trì vị thế tích cực, trong đó xuất khẩu rau quả tăng 45%,càphê tăng 24%so với cùng kỳ.
Nhập khẩu hạ nhiệt nhưng vẫn phản ánh nhu cầu sản xuất cao. Sau giai đoạn tăng mạnh từ đầu năm để tích lũy nguyên vật liệu và hàng tồn kho, hoạt động nhập khẩu đã có dấu hiệu chậm lại trong tháng 8. Giá trị nhập khẩu giảm 3,1% so với tháng trước, giúp cán cân thương mại cải thiện đáng kể với mức nhập siêu chỉ còn 113 triệu USD. Tuy nhiên, cơ cấu nhập khẩu tiếp tục cho thấy nhu cầu sản xuất trong nước duy trì ở mức cao. Nhập khẩu nhóm điện tử tiếp tục tăng tới 80% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, nhiều mặt hàng nguyên liệu và năng lượng cũng ghi nhận mức tăng trưởng mạnh như xăng dầu (+150%), dầu thô (+26%), than đá (+91%), quặng và khoáng sản khác (+109%).

Hoạt động đầu tư duy trì xu hướng tích cực và tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Giải ngân đầu tư công đã tăng tốc trở lại sau khi chậm lại trong tháng 7, với tổng giá trị giải ngân lũy kế 8 tháng đạt 509,5 nghìn tỷ đồng, tương đương 49,8% kế hoạch Thủ tướng giao và tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước. Song song với đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục ghi nhận kết quả khả quan. Vốn FDI thực hiện tăng khoảng 12% trong 8 tháng đầu năm, trong khi vốn FDI đăng ký mới và bổ sung tăng mạnh 55,4%.
CPI tiến sát ngưỡng mục tiêu cả năm. Sau khi hạ nhiệt trong tháng 7, lạm phát đã tăng trở lại trong tháng 8 dưới tác động của giá năng lượng quốc tế, đặc biệt là giá dầu thế giới tăng mạnh khi căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông leo thang trở lại. Chỉ số CPI tháng 8 tăng 0,47% so với tháng trước và tăng 4,89% so với cùng kỳ. Lạm phát bình quân 8 tháng đạt 4,45%, tiến sát ngưỡng mục tiêu kiểm soát lạm phát 4,5% của Chính phủ. Không chỉ riêng Việt Nam mà rủi ro lạm phát hiện bao trùm trên phạm vi toàn cầu. Kỳ vọng lạm phát gia tăng đã khiến trái phiếu chính phủ tại nhiều nền kinh tế bị bán ra mạnh, đẩy lợi suất trái phiếu lên mức cao nhất trong nhiều năm và làm tăng rủi ro duy trì mặt bằng lãi suất quốc tế ở mức cao lâu hơn dự kiến.
Tiêu dùng cải thiện nhưng chưa tạo được đột phá. Lũy kế 8 tháng, tổng mức bán lẻ tăng khoảng 13,3% so với cùng kỳ. Sau khi loại trừ yếu tố giá, mức tăng trưởng thực đạt khoảng 7,6%. Mặc dù xu hướng tiêu dùng tiếp tục phục hồi so với cùng kỳ năm trước, tốc độ cải thiện vẫn thấp hơn đáng kể so với khu vực sản xuất và xuất khẩu. Điều này cho thấy động lực tăng trưởng của nền kinh tế hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào khu vực sản xuất hướng ngoại hơn là nhu cầu trong nước.

Thị trường tiền tệ: Thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục cải thiện trong tháng 8, tỷ giá hạ nhiệt. Điều kiện thanh khoản trên thị trường tiền tệ tiếp tục được cải thiện trong tháng 8 bất chấp nhu cầu tín dụng duy trì ở mức cao. Nhiều ngân hàng thương mại đã điều chỉnh tăng lãi suất huy động nhằm thu hút nguồn vốn từ khu vực dân cư, giúp tăng trưởng huy động VNĐ tới 22/8 đạt 8,77%, cao hơn tăng trưởng tín dụng VNĐ là 8,38%. Thanh khoản toàn hệ thống dồi dào hơn, thể hiện qua việc lãi suất liên ngân hàng qua đêm giảm dần trong tháng về quanh ngưỡng 2%. Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước từng bước giảm hỗ trợ thanh khoản thông qua thị trường mở (OMO), với giá trị hút ròng khoảng 16,6 nghìn tỷ đồng trong tháng. Điều này cho thấy áp lực thanh khoản ngắn hạn của hệ thống đã giảm đáng kể so với các tháng trước.
Một diễn biến đáng chú ý khác là tỷ giá USD/VND đã hạ nhiệt rõ rệt. Tỷ giá giảm khoảng 200 đồng, tương đương 0,76% so với cuối tháng 7, phản ánh tâm lý găm giữ ngoại tệ suy giảm và trạng thái cung cầu ngoại tệ trở nên cân bằng hơn. Bên cạnh đó, nguồn ngoại tệ tích cực từ xuất khẩu và FDI tiếp tục đóng vai trò hỗ trợ quan trọng đối với tỷ giá.

Thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán Việt Nam phục hồi tích cực trong tháng 8 sau nhịp điều chỉnh mạnh của tháng 7. VN-Index kết tháng tại 1.832,12 điểm, tăng 5,6% so với tháng trước, bù đắp phần lớn mức giảm 6,7% của tháng 7 và đưa hiệu suất từ đầu năm về +2,7%. VN30 tăng 5,9%, VNMID tăng 5,4%, cho thấy đà hồi phục vẫn tập trung ở nhóm vốn hóa lớn. Tuy nhiên, thanh khoản chưa cải thiện tương xứng: giá trị khớp lệnh bình quân HOSE chỉ đạt 14,2 nghìn tỷ đồng/phiên, giảm 2,2% MoM và thấp hơn 30% so với trung bình 5 tháng.
Xét theo ngành, bất động sản và ngân hàng tiếp tục dẫn dắt khi lần lượt đóng góp 48,7 điểm và 36,6 điểm vào mức tăng của VN-Index, tương đương gần 90% mức tăng toàn thị trường. VIC, VHM, VRE nổi bật ở nhóm bất động sản, trong khi TCB, VPB, MBB và HDB dẫn dắt nhóm ngân hàng. Dù vậy, dòng tiền chưa thuyết phục khi giá trị giao dịch nhóm ngân hàng giảm 22,3% MoM và dịch vụ tài chính giảm 33,5%, trong khi bất động sản là nhóm hiếm hoi ghi nhận cả giá và thanh khoản cùng cải thiện.
Nhìn chung, tháng 8 cho thấy tâm lý thị trường cải thiện nhưng chưa đủ để xác nhận xu hướng tăng bền vững. Khối ngoại bán ròng khoảng 1,6 nghìn tỷ đồng, song áp lực đã giảm mạnh và đảo chiều mua ròng sau thông tin FTSE ngày 21/8, tập trung vào FPT, TCB và VIC. Quyết định 40/2026/QĐ-TTg về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp và kỳ vọng nâng hạng FTSE Russell cũng hỗ trợ tâm lý. Về định giá, VN-Index kết tháng ở P/E trailing khoảng 12,55x, thấp hơn đáng kể mức trung bình 10 năm khoảng 15,3x. Định giá vẫn hỗ trợ chiến lược tích lũy chọn lọc, song xu hướng tăng trung hạn cần thêm xác nhận từ thanh khoản, độ lan tỏa vàdòng vốn ngoại.
